POW: Nhơn Trạch 3 và 4 cho thấy khả năng chống chịu tốt trước cơn bão giá LNG.

  • KQKD Q1/2026 bứt phá: POW đạt doanh thu 12,327 tỷ đồng (+51% yoy), LNST cổ đông công ty mẹ ~1,200 tỷ đồng (+170% yoy), hoàn thành gần 50% dự phóng cả năm của nhiều CTCK. Động lực chính đến từ Nhơn Trạch 3 & 4, đóng góp 874 triệu kWh và ~3,300 tỷ đồng doanh thu điện ngay trong quý đầu tiên.

  • Khả năng chống chịu giá LNG: POW đã đảm bảo 9.6 triệu MMBTU LNG cho mùa khô và đang thu mua thêm 24.8 triệu MMBTU cho giai đoạn cao điểm. Cơ chế CfD và Qc tối thiểu 65% giúp duy trì biên lợi nhuận gộp 14.6% bất chấp giá LNG thế giới có lúc vượt 19 USD/MMBTU.
  • Triển vọng & định giá: LNST 2026 dự báo vượt 3,000 tỷ đồng (+27% yoy), nhờ NT3&4 và NT2 hết khấu hao tiết giảm ~400 tỷ/năm. Các CTCK đưa ra giá mục tiêu 15,300–17,100 VND/cp, khuyến nghị chủ yếu MUA/Khả quan, với upside kỳ vọng 20–23%

Thị trường điện Việt Nam trong năm 2026 đang đối mặt với bài toán đầy thách thức khi nhu cầu tiêu thụ điện quốc gia dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng nóng với mức tăng từ 8,5% đến 10,2%.

Sự chuyển dịch từ pha La Niña sang khả năng quay trở lại của El Niño đang tạo ra áp lực lớn lên hệ thống thủy điện, buộc cơ cấu nguồn điện phải dựa vào các nguồn nhiệt điện nền ổn định hơn.

Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 36/NQ-CP nhằm ưu tiên tối đa nguồn khí tự nhiên nội địa cho phát điện, vừa để đảm bảo an ninh năng lượng, vừa giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn nhiên liệu nhập khẩu đắt đỏ.

Đây là giai đoạn bước ngoặt khi ngành điện bắt đầu hiện thực hóa lộ trình Net Zero thông qua việc đưa các dự án khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) quy mô lớn vào vận hành thương mại, tạo tiền đề cho một hệ thống điện linh hoạt và giảm phát thải.

PV Power thiết lập nền tảng tăng trưởng kỷ lục từ đóng góp của siêu dự án Nhơn Trạch 3 và 4

Bước sang năm 2026, PV Power đã khẳng định vị thế dẫn đầu khi công bố kết quả kinh doanh quý 1 với mức doanh thu đạt kỷ lục 12,327 tỷ đồng, tăng trưởng 51% so với cùng kỳ năm trước.

Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ cũng ghi nhận mức tăng đột biến, đạt khoảng 1,200 tỷ đồng, gấp 2.7 lần so với quý 1 năm 2025 và hoàn thành gần 50% dự phóng cả năm của nhiều tổ chức tài chính.

Động lực chính cho sự bứt phá này đến từ cụm nhà máy Nhơn Trạch 3 và 4 – dự án điện khí LNG đầu tiên của Việt Nam – khi đóng góp tới 874 triệu kWh sản lượng điện và mang về doanh thu tiền điện khoảng 3,300 tỷ đồng ngay trong quý vận hành trọn vẹn đầu tiên.

Mặc dù sản lượng thực phát có thể biến động tùy theo điều độ hệ thống, PV Power vẫn được bảo vệ bởi cơ chế thanh toán sản lượng hợp đồng (Qc) tối thiểu 65%, giúp doanh nghiệp thu hồi chi phí cố định và duy trì biên lợi nhuận gộp ở mức cao 14.6%.

Trong Q1/2026, biên lợi nhuận gộp của POW chưa phản ánh rõ rệt tác động của đà tăng giá nhiên liệu, chủ yếu do sản lượng điện thực phát của một số nhà máy thấp hơn đáng kể so với sản lượng hợp đồng được phân bổ trong quý (Qc/Qm >1, hàm ý các nhà máy có chi phí sản xuất cao chưa phải phát điện lên thị trường điện, đồng thời được nhận doanh thu từ hợp đồng chênh lệch).

Dù vậy, diễn biến này có thể đảo ngược nếu Qc/Qm trong các quý tới thấp hơn 1 (<1), đồng thời đà tăng giá dầu/khí mạnh hơn so với mức tăng của các loại nhiên liệu khác (làm giảm khả năng cạnh tranh của các nhà máy điện khí). 

Chiến lược đảm bảo nhiên liệu LNG và hạ tầng cung ứng ổn định cho giai đoạn cao điểm

Vấn đề đủ nhiên liệu để vận hành các tổ máy LNG đã được PV Power và đối tác chiến lược PV Gas giải quyết thông qua lộ trình cung ứng chặt chẽ. Tính đến cuối tháng 4 năm 2026, doanh nghiệp đã đảm bảo được 9.6 triệu MMBTU LNG, mức đủ để duy trì hoạt động liên tục trong suốt giai đoạn đầu mùa khô.

Nhằm chuẩn bị cho các tháng cao điểm nắng nóng từ tháng 6 đến tháng 12, POW hiện đang tích cực triển khai quy trình thu mua thêm 24.8 triệu MMBTU LNG để bổ sung vào nguồn dự trữ.

Hệ thống kho cảng LNG Thị Vải với công suất 1 triệu tấn/năm đóng vai trò là hạ tầng xương sống, giúp PV Gas chủ động nhập khẩu các chuyến tàu LNG từ Qatar và Đông Nam Á để đảm bảo cung cấp nhiên liệu ổn định trong 25 năm theo hợp đồng đã ký kết.

Dù giá LNG thế giới có thời điểm vọt lên trên 19 USD/MMBTU do biến động địa chính trị tại Trung Đông, cơ chế thanh toán hợp đồng chênh lệch (CfD) cho phép doanh nghiệp ghi nhận doanh thu dựa trên năng lượng sẵn sàng phát, giúp giảm thiểu tối đa rủi ro lỗ vận hành khi giá đầu vào tăng cao.

Triển vọng bứt phá lợi nhuận năm 2026 và lộ trình mở rộng quy mô dự án LNG Quảng Ninh

Nhìn về cả năm 2026, triển vọng tài chính của PV Power được đánh giá là cực kỳ khả quan với dự báo lợi nhuận sau thuế có thể vượt mức 3,000 tỷ đồng, tăng trưởng khoảng 27% so với năm 2025.

Bên cạnh sự đóng góp mới từ Nhơn Trạch 3 và 4, nhà máy Nhơn Trạch 2 cũng trở thành “máy in tiền” khi đã hoàn tất khấu hao máy móc từ tháng 10 năm 2025, giúp tiết giảm chi phí khoảng 400 tỷ đồng mỗi năm.

Ngoài ra, PV Power đang đẩy mạnh chuẩn bị cho các dự án chiến lược tiếp theo như LNG Quảng Ninh (POW góp 30% vốn) và LNG Quỳnh Lập với tổng mức đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng, nhằm nâng cao quy mô công suất phát điện trong tương lai.

Với vị thế là nhà phát điện có quy mô công suất đứng thứ 5 toàn quốc và dòng tiền hoạt động mạnh mẽ đạt gần 5,000 tỷ đồng, POW hiện đang là lựa chọn ưu tiên của các nhà đầu tư tổ chức với giá mục tiêu kỳ vọng dao động từ 15,300 đến 17,100 đồng/cổ phiếu.

Với việc KQKD tích cực trong Q1/2026, ACBS  cho rằng các quý còn lại trong năm POW khó đạt được KQKD tốt như Q1/2026 do các đợt dừng máy bảo dưỡng định kỳ. Tuy nhiên,việc điều chỉnh giảm ước tính chi phí khấu hao trong năm. Do đó, thay đổi dự phóng LNST 2026 lên 3,025 tỷ đồng, +19% so với dự phóng cũ, và đưa ra giá mục tiêu cho POW năm 2026 ở mức 17,100 đồng/cp, ứng với tổng tỷ suất sinh lời kỳ vọng 22.8%, khuyến nghị MUA.

Theo báo cáo cập nhật của BSC (14.5.2026), tổ chức này duy trì khuyến nghị MUA đối với cổ phiếu POW với giá mục tiêu mới là 17,100 đồng/cổ phiếu, tương ứng với tỷ lệ tăng giá kỳ vọng đạt 22%. Sau kết quả kinh doanh quý 1 năm 2026 đầy bứt phá khi hoàn thành tới 55% dự phóng cũ, BSC đã quyết định nâng dự báo lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ cả năm 2026 lên mức 2,697 tỷ đồng, tăng 24% so với báo cáo trước đó.

Triển vọng tăng trưởng tích cực này được củng cố bởi sản lượng điện dự kiến của POW sẽ tăng mạnh 19% trong năm 2026 nhờ hiện tượng El Nino bắt đầu chiếm chủ đạo từ tháng 6, kết hợp với việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 70 ưu tiên huy động các nguồn nhiệt điện khí. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương đang đề xuất nâng tỷ lệ Qc cho các nhà máy điện khí từ 65% lên 70%. Nếu được chấp thuận, điều này sẽ tái định giá lại POW.

Trong đó, các nhà máy điện khí nội địa như Nhơn Trạch 1 và Nhơn Trạch 2 sẽ vận hành ổn định nhờ nguồn cung cấp dồi dào từ mỏ khí mới Sư Tử Trắng 2B. Đối với cụm nhà máy Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 sử dụng LNG nhập khẩu, dù giá LNG thế giới đang neo cao ở mức 16 USD/MMBTU, doanh nghiệp vẫn được bảo vệ biên lợi nhuận nhờ cơ chế chuyển ngang giá khí vào giá bán điện cho EVN và tỷ lệ Qc tối thiểu được cam kết ở mức 65%.

Ngoài ra, khoản dự phòng nợ xấu phải thu từ EVN lũy kế đạt 580 tỷ đồng tính đến cuối quý 1 năm 2026 cũng được kỳ vọng là nguồn lợi nhuận hoàn nhập tiềm năng rất lớn giúp hỗ trợ kết quả kế toán cho POW trong thời gian tới.

BSC dự phóng sản lượng điện của NT3 và NT4 sẽ giảm 60% từ 10.4 tỷ Kwh về 4.2 tỷ Kwh do giá LNG tăng nhanh. Ước tính NT3 và NT4 được đền bù khoảng 400 tỷ trong quý 1 do không được huy động như kế hoạch được giao. Dự phóng khoản lỗ năm 2026 của hai nhà máy này sẽ giảm từ -125 tỷ về mức -98 tỷ đồng.

Bảng so sánh quan điểm các CTCK về POW

Tiêu chí BSC (14/05/2026) SSI (07/05/2026) HSC (06/05/2026) VDSC (06/05/2026) ACBS (12/05/2026)
Khuyến nghị

MUA

KHẢ QUAN

Mua vào

TÍCH LŨY

MUA

Giá mục tiêu (VND)

17,100

16,000

16,900

15,700

17,100

Doanh thu 2026F (tỷ đồng)

50,841

46,994

48,038

Đang xem xét điều chỉnh

49,288

LNST 2026F (tỷ đồng)

2,697

3,089

1,798

Đang xem xét điều chỉnh

3,025

Động lực tăng trưởng chính

Sản lượng Nhơn Trạch 1 và Nhơn Trạch 2 tăng mạnh nhờ mỏ khí Sư Tử Trắng 2B; tổng vốn đầu tư Nhơn Trạch 3 và 4 thấp hơn dự kiến giúp giảm lãi vay và khấu hao; đền bù sản lượng hợp đồng (Qc) không huy động tại NT3&4 đạt 400 tỷ đồng trong Q1; hiện tượng El Nino từ tháng 6 hỗ trợ nhiệt điện.

Đóng góp sản lượng từ Nhơn Trạch 3 và 4; chất lượng khoản phải thu cải thiện mạnh với nợ xấu giảm còn 5% tổng phải thu; chi phí quản lý giảm 30% nhờ hoàn nhập dự phòng; El Nino quay trở lại tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệt điện phát khí nội địa.

Quý vận hành trọn vẹn đầu tiên của tổ hợp Nhơn Trạch 3 và 4; cơ chế thanh toán công suất ưu đãi CfD giúp nhận thanh toán dựa trên Qc 1.42 tỷ kWh dù thực phát thấp hơn; định giá P/E trượt 1 năm trở nên hấp dẫn sau nhịp điều chỉnh.

Nhơn Trạch 3 và 4 đi vào hoạt động và được phân bổ tỷ lệ Qc/Qm cao kỷ lục (163% trong Q1); sản lượng Nhơn Trạch 1 và 2 phục hồi mạnh mẽ bù đắp cho sự sụt giảm nguồn khí Tây Nam Bộ tại Cà Mau 1&2.

Kết quả quý 1 bứt phá hoàn thành 51% dự phóng cả năm; nâng dự báo LNST năm 2026 lên thêm 19% nhờ điều chỉnh giảm ước tính chi phí khấu hao thực tế so với ghi nhận của doanh nghiệp.

Rủi ro và lưu ý chính

Thiếu hụt nguồn khí đột ngột; thời tiết thay đổi bất thường; giá LNG giao ngay neo cao (tuy nhiên rủi ro giá LNG được chuyển ngang cho khách hàng theo hợp đồng điện).

Sự cố kỹ thuật tại các tổ máy; căng thẳng địa chính trị Trung Đông kéo dài; rủi ro nguồn cung than và khí trong nước; giá LNG cao làm giảm tính cạnh tranh của điện khí LNG.

LNST dự báo giảm 26% so với năm 2025 do áp lực từ chi phí tài chính (lãi vay) và khấu hao tăng vọt khi cụm Nhơn Trạch 3 và 4 đi vào hoạt động.

Chi phí nhiên liệu leo thang do xung đột Trung Đông; rủi ro suy giảm hiệu quả biên lợi nhuận gộp trong các quý tới nếu tỷ lệ Qc/Qm giảm xuống dưới 1.

Kết quả kinh doanh các quý còn lại có thể thấp hơn quý 1 do các nhà máy lớn bước vào lịch dừng máy bảo dưỡng định kỳ.

Để lại một bình luận