POW: Việc nâng sản lượng Qc lên 75% sẽ giúp Nhơn Trạch 3&4 hưởng lợi. VNDirect đưa ra giá mục tiêu 17,300 đồng.

Nhu cầu điện tăng mạnh: Việt Nam ghi nhận mức tiêu thụ điện tăng 8.8% trong nửa đầu 2026, nhờ sản xuất phục hồi và thời tiết nắng nóng, tạo dư địa huy động tốt cho các nhà máy của POW, đặc biệt là Nhơn Trạch 3&4 .

Cơ chế Qc nâng lên 75%: Việc điều chỉnh sản lượng hợp đồng từ 65% lên 75% giúp NT3&4 ổn định đầu ra, tối ưu chi phí và trở thành động lực tăng trưởng chính của POW giai đoạn 2026–2028 .

Triển vọng cổ phiếu khả quan: VNDirect nâng giá mục tiêu POW lên 17,300 đồng/cp, dự báo doanh thu 2026 tăng 73.8% nhờ NT3&4 đi vào hoạt động, trong khi SSI và MBS cũng đưa ra dự báo lợi nhuận quý 2/2026 tăng mạnh (600-650 tỷ đồng) .

POW hưởng lợi từ mùa nóng và sản xuất phục hồi. Nhơn Trạch 3& 4 hưởng lợi khi sản lượng Qc nâng từ 65% lên 75%

Nhu cầu điện tại Việt Nam tăng mạnh trong nửa đầu năm 2026 với mức tăng tiêu thụ 8.8% so với cùng kỳ, được thúc đẩy bởi hoạt động sản xuất tích cực và thời tiết nắng nóng. Xu hướng này dự kiến duy trì sang năm 2027 nhờ tăng trưởng kinh tế, tạo dư địa huy động tốt cho danh mục nhà máy của POW, đặc biệt là các nguồn điện nền ổn định.

Đồng thời, tài chính của EVN đã cải thiện đáng kể với việc xóa sạch lỗ lũy kế hơn 50 nghìn tỷ vào cuối năm 2025, giúp giảm áp lực công nợ và tạo môi trường vận hành thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp phát điện.

Bên cạnh đó, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh phụ tải tăng nhanh và rủi ro địa chính trị gia tăng đã củng cố vai trò của điện khí, LNG và điện than, đưa POW vào vị thế hưởng lợi nhờ sở hữu danh mục nhà máy quy mô lớn.

Theo đánh giá từ VNDIRECT, triển vọng cổ phiếu POW trong năm 2026 đang trở nên khả quan nhờ vào những bước ngoặt quan trọng trong hoạt động kinh doanh và khung pháp lý.

Một trong những điểm tựa chính là cơ chế Qc (sản lượng hợp đồng) mới, được kỳ vọng sẽ hỗ trợ tích cực cho hiệu quả vận hành của các nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 (NT3&4).

Cơ chế này giúp đảm bảo tính ổn định hơn cho sản lượng đầu ra và tối ưu hóa chi phí trong bối cảnh các nhà máy mới đi vào hoạt động, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận dài hạn của tổng công ty.

Nhà máy NT3&4 là động lực tăng trưởng quan trọng nhất của POW trong giai đoạn 2026-2028, với triển vọng lợi nhuận được củng cố nhờ đề xuất nâng mức Qc tối thiểu dài hạn từ 65% lên 75% kể từ năm 2027.

BSC cho rằng triển vọng công suất dài hạn được củng cố vững chắc nhờ các định hướng chính sách từ Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết 70 về ưu tiên huy động nhiệt điện khí.

BSC điều chỉnh tăng 33% giá thị trường cạnh tranh (CGM) năm 2026 lên 1,260 VND/kWh. Nhờ cơ chế chuyển ngang chi phí nhiên liệu trong hợp đồng mua bán điện, việc giá nhiên liệu tăng không ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của POW. Ngược lại, mức CGM cao giúp nâng giá bán điện bình quân lên 2,412 VND/kWh, qua đó mở rộng biên lợi nhuận gộp mảng điện lên 12.5%.

Đối với các nhà máy điện khí nội địa, cụm NT1/NT2 được dự báo huy động tốt trong năm 2026 nhờ nhu cầu điện tăng cao tại Đông Nam Bộ nhưng sẽ thu hẹp dư địa tăng trưởng từ năm 2027, trong khi Cà Mau 1&2 tiếp tục duy trì sản lượng ổn định ngắn hạn và kỳ vọng tiếp nhận nguồn khí bổ sung từ năm 2028.

Về mảng điện than, nhà máy Vũng Áng 1 (VA1) được kỳ vọng duy trì triển vọng tích cực trong năm 2026 nhờ nhu cầu điện phục hồi và thời tiết nắng nóng, cùng với đó là sự hỗ trợ doanh thu từ khoản bù chênh lệch tỷ giá khoảng 1,300 tỷ đồng được phân bổ từ EVN trong ba năm.

Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (POW) được CTCK VNDirect dự báo sản lượng và doanh thu hợp nhất năm 2026 tăng lần lượt 33.6% và 73.8% so với cùng kỳ nhờ nhà máy NT3&4 đi vào hoạt động.

Sang năm 2027, dù doanh thu dự kiến giảm 3.1% do giá nhiên liệu hạ nhiệt, lợi nhuận ròng vẫn kỳ vọng tăng 8.7%, nhờ cơ chế Qc 75% cho điện LNG và khoản bù chênh lệch tỷ giá tại nhà máy Vũng Áng 1.

Trong khi đó, tăng trưởng lợi nhuận ròng năm 2026 dự kiến đạt 2.8%, đat 2,495 tỷ đồng, thấp hơn mức tăng của lợi nhuận gộp do áp lực từ chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính gia tăng.

POW: Nhơn Trạch 3 và 4 đi vào hoạt động mở ra chương mới đầy kỳ vọng

Dự báo lợi nhuận quý 2/2026: Góc nhìn từ SSI Research

SSI Research đưa ra dự báo lợi nhuận sau thuế của POW trong quý 2/2026 đạt khoảng 600 – 650 tỷ đồng.

Động lực chính cho sự tăng trưởng này đến từ kỳ vọng sản lượng tăng trưởng mạnh trong khoảng 40-45% so với cùng kỳ, nhờ sự cải thiện huy động tại các nhà máy Vũng Áng 1, Nhơn Trạch 2, Hủa Na cùng với sự đóng góp doanh thu từ dự án điện LNG Nhơn Trạch 3&4.

Mặc dù chi phí cố định được dự báo sẽ tăng lên do việc đưa các nhà máy mới vào vận hành, SSI vẫn giữ quan điểm lạc quan về khả năng cải thiện kết quả kinh doanh chung của POW.

MBS dự báo lợi nhuận quý 2 của POW có thể đạt 3 nghìn tỷ, gấp 4 lần năm ngoái.

Ở một góc độ khác, MBS Research dự kiến sẽ tăng gấp 4 lần  so với cùng kỳ năm trước, đạt 3 nghìn tỷ (Elibook Team đánh giá thấp kịch bản này). Sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ việc lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cốt lõi được duy trì ổn định, kết hợp với doanh thu tăng trưởng tới 70% so với cùng kỳ nhờ đóng góp trực tiếp từ các dự án Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4.

MBS cũng đánh giá tích cực về triển vọng huy động của các nhà máy truyền thống như Vũng Áng 1 và Nhơn Trạch 1&2 trong giai đoạn này.

Định giá và khuyến nghị

CTCK VNDirect (30.6.2026) Khuyến nghị Khả quan đối với cổ phiếu POW được duy trì với giá mục tiêu nâng lên 17,300 đồng/cp, nhờ điều chỉnh tăng dự phóng EPS giai đoạn 2026-2027 thông qua việc nâng giả định Qc cho các nhà máy NT1, NT2 và LNG.

P/B mục tiêu được giữ nguyên ở mức 1.10x, phản ánh mức premium hợp lý so với trung bình 5 năm.

Trong báo cáo cập nhật doanh nghiệp mới nhất vào ngày 7/7/2026, Công ty Chứng khoán BIDV (BSC) duy trì khuyến nghị MUA đối với cổ phiếu POW với giá mục tiêu 18,500 VND/cổ phiếu, tương đương mức sinh lời kỳ vọng 25% so với giá đóng cửa ngày 6/7/2026. BSC đã thực hiện điều chỉnh tăng 8% giá mục tiêu so với báo cáo gần nhất, phản ánh sự lạc quan với mức tăng trưởng 118% trong dự phóng Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ (LNST-CĐTS) năm 2026.

Theo BSC, bức tranh tài chính của POW năm 2026 sẽ ghi nhận sự bứt phá đáng kể với doanh thu thuần ước đạt 58,729 tỷ VND, tăng 57% so với cùng kỳ và LNST-CĐTS đạt 5,854 tỷ VND, tăng 150% so với cùng kỳ. Động lực thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ này đến từ khoản đền bù tỷ giá đột biến 1,600 tỷ VND từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đóng góp 51% vào mức tăng dự phóng lợi nhuận.

Đồng thời, sản lượng điện thương phẩm được điều chỉnh tăng 7.4%, đạt 23,608 triệu kWh, nhờ dự phóng sản lượng phát tại nhà máy Vũng Áng 1 và Nhơn Trạch 1 tăng trưởng tốt, kết hợp với giá bán điện bình quân được kỳ vọng tăng 5% nhờ giá thị trường cạnh tranh (CGM) tăng mạnh.

Mặc dù giữ quan điểm tích cực, BSC cũng chỉ ra một số rủi ro nhà đầu tư cần lưu ý, bao gồm: sản lượng thương phẩm và tỷ lệ Qc thực tế thấp hơn kỳ vọng; áp lực từ gánh nặng chi phí tài chính và lãi vay tại dự án Nhơn Trạch 3 & 4; cùng rủi ro biến động giá nhiên liệu đầu vào và các điều kiện thời tiết bất lợi khác (như La Niña) có thể ảnh hưởng đến khả năng huy động tối đa công suất của các nhà máy nhiệt điện

Bảng so sánh quan điểm của các CTCK về POW

Công ty chứng khoán Khuyến nghị Giá mục tiêu (VND) Dự phóng LN ròng 2026 (Tỷ VND) Điểm nhấn chính
VNDIRECT (30.6.2026) Khả quan

17,300

2,495

Động lực từ NT3&4, cải thiện cơ chế Qc và khoản bù tỷ giá từ EVN.

MBS (26.5.2026) Mua 16,700 2,458 Tập trung vào vai trò của NT3&4; thận trọng với chi phí khấu hao/lãi vay.
HSC (26.5.2026) Mua 16,900 1,798 (đang điều chỉnh) Nhấn mạnh tiềm năng NT3&4 với cách tiếp cận dự báo thận trọng.

Để lại một bình luận