- KQKD 5T/2026: Sản lượng điện đạt 10.5 tỷ kWh (+35% YoY), doanh thu hợp nhất ~24,000 tỷ đồng (48% kế hoạch năm), lợi nhuận hợp nhất ~1,800 tỷ đồng – vượt xa chỉ tiêu cả năm chỉ sau chưa đầy nửa chặng đường.
- Động lực tăng trưởng: Hiệu quả vận hành vượt trội của Nhơn Trạch 1 (+154%) và Nhơn Trạch 2 (+59%) nhờ nguồn khí Sư Tử Trắng 2B, cùng đóng góp mới từ Nhơn Trạch 3 & 4.
- Chính sách hỗ trợ: Dự thảo Nghị định 56 đề xuất nâng tỷ lệ sản lượng hợp đồng (Qc) tối thiểu từ 65% → 75% trong 15 năm, hứa hẹn mở rộng dư địa lợi nhuận cho các dự án LNG như Nhơn Trạch 3, 4 và Quỳnh Lập
Bước ngoặt chiến lược của PV Power sau Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026
Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 của Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power – Mã: POW) diễn ra vào ngày 20/05/2026 đã thông qua kế hoạch kinh doanh đầy tham vọng cho năm 2026 với mục tiêu sản lượng điện thương phẩm đạt 21.6 tỷ kWh, tăng khoảng 16% so với kết quả thực hiện của năm 2025
Đi kèm với đó, chỉ tiêu doanh thu hợp nhất cũng được kỳ vọng tăng mạnh tới 45% so với cùng kỳ, ước đạt 49,887 tỷ đồng.
Mặc dù chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế và sau thuế hợp nhất được xây dựng tương đối thận trọng ở mức lần lượt là 1,328 tỷ đồng và 1,124 tỷ đồng do phải dự phòng đầy đủ các chi phí khấu hao, chi phí lãi vay và chi phí vận hành LNG nhập khẩu trong năm đầu chạy toàn tải, các CTCK đều chung nhận định rằng đây chỉ là phương án an toàn truyền thống của doanh nghiệp và thực tế khả năng vượt kế hoạch lợi nhuận là vô cùng khả quan.
Năm 2026 là cột mốc định hình lại hoàn toàn diện mạo phát triển của doanh nghiệp thông qua việc vận hành tổ hợp điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và 4.
Kết quả kinh doanh bứt phá trong 5 tháng đầu năm bộc lộ kế hoạch thận trọng
Minh chứng rõ nét nhất cho sự thận trọng quá mức trong kế hoạch năm là kết quả kinh doanh sơ bộ 5 tháng đầu năm 2026 được ban lãnh đạo công bố ngay tại đại hội với những số liệu tăng trưởng vô cùng thuyết phục.
Cụ thể, sản lượng điện sản xuất lũy kế của toàn tổng công ty trong năm tháng đạt tới 10.5 tỷ kWh, tăng trưởng 35% so với cùng kỳ năm trước và đã hoàn thành tới 49% kế hoạch sản lượng của cả năm.
Nhờ sản lượng phục hồi mạnh mẽ cùng với giá bán điện bình quân cải thiện, doanh thu hợp nhất ước tính trong năm tháng đầu năm đã cán mốc 24,000 tỷ đồng, tương đương 48% chỉ tiêu doanh thu năm.
Đáng chú ý hơn cả, lợi nhuận hợp nhất 5 tháng ước đạt tới 1,800 tỷ đồng, chính thức vượt xa mục tiêu lợi nhuận trước thuế của cả năm 2026 chỉ sau chưa đầy một nửa chặng đường.
Điều này phản ánh hiệu quả vận hành vượt trội của các tổ máy hiện hữu kết hợp với đóng góp mới của Nhơn Trạch 3 và 4 từ đầu năm. Sự bứt phá này cũng là sự tiếp nối của kết quả quý 1 năm 2026 cực kỳ thành công khi doanh nghiệp ghi nhận doanh thu kỷ lục 12,327 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 1,300 tỷ đồng, hoàn thành tới 115% kế hoạch lợi nhuận năm chỉ trong một quý duy nhất.
Sự phục hồi mạnh mẽ của các nhà máy điện khí truyền thống như Nhơn Trạch 1 với sản lượng tăng 154% và Nhơn Trạch 2 tăng 59% nhờ nguồn cung khí nội địa dồi dào từ mỏ mới Sư Tử Trắng 2B đã đóng vai trò bệ đỡ vững chắc cho hiệu quả kinh doanh chung.
Giải quyết triệt để nút thắt cung ứng nhiên liệu khí và cơ chế sản lượng hợp đồng mới
Một trong những vấn đề cốt lõi được chất vấn nhiều nhất tại đại hội là khả năng đảm bảo đủ nguồn khí LNG nhập khẩu cho cụm Nhơn Trạch 3 và 4 hoạt động liên tục mà không làm ảnh hưởng đến hiệu quả sinh lời.
Giải đáp mối quan tâm này, ban lãnh đạo cho biết công ty đã chủ động phối hợp với PV Gas để chuẩn bị nguồn nhiên liệu LNG cực kỳ dồi dào, đủ để duy trì vận hành ổn định cho toàn bộ nửa đầu năm 2026 thông qua kho cảng LNG Thị Vải.
Doanh nghiệp đã chốt xong 9.6 triệu MMBTU LNG để dùng đến hết tháng tư, ký tiếp hợp đồng mua 3.2 triệu MMBTU cho tháng năm và đang tích cực đàm phán hoàn tất việc mua 24.8 triệu MMBTU cho giai đoạn từ tháng sáu đến tháng mười hai năm 2026.
Mặc dù giá LNG thế giới có sự biến động tăng mạnh do ảnh hưởng từ căng thẳng địa chính trị khu vực Trung Đông, rủi ro biến động chi phí đầu vào đối với PV Power đã được kiểm soát hiệu quả nhờ điều khoản chuyển ngang giá khí vào giá bán điện trong hợp đồng mua bán điện ký với Tập đoàn Điện lực Việt Nam, giúp bảo vệ biên lợi nhuận của doanh nghiệp trước các cú sốc giá nhiên liệu.
Đồng thời, cơ chế sản lượng hợp đồng sai khác cũng đang mang lại lợi ích lớn khi Nhơn Trạch 3 và 4 được giao sản lượng hợp đồng hơn 3.1 tỷ kWh cho nửa đầu năm.
Đặc biệt, dự thảo sửa đổi Nghị định 56 đang đề xuất nâng tỷ lệ sản lượng hợp đồng tối thiểu cho các dự án điện khí LNG từ mức 65% hiện tại lên 75% trong thời hạn 15 năm. Ban lãnh đạo xác nhận đã gửi văn bản chính thức lên Bộ Công Thương để áp dụng cơ chế mới này cho cả Nhơn Trạch 3 và 4 lẫn siêu dự án LNG Quỳnh Lập, hứa hẹn mở ra một dư địa tăng trưởng lợi nhuận cực lớn cho mảng điện khí trong tương lai.
Động lực tài chính bổ sung từ quyết toán tỷ giá và tái cấu trúc nguồn vốn
Bên cạnh mảng vận hành cốt lõi, PV Power đang đứng trước cơ hội ghi nhận những khoản lợi nhuận tài chính bất thường có giá trị lớn trong các quý tới, giúp làm sạch bảng cân đối kế toán và hỗ trợ dòng tiền kinh doanh.
Trọng tâm là khoản bồi thường chênh lệch tỷ giá của nhà máy nhiệt điện than Vũng Áng 1 có giá trị dao động từ 1,300 tỷ đồng đến 1,600 tỷ đồng.
Khoản tiền này đã được EVN phê duyệt phân bổ vào giá bán lẻ điện năm 2025 và doanh nghiệp đang khẩn trương hoàn tất các thủ tục quyết toán cuối cùng để kỳ vọng nhận thanh toán và ghi nhận trực tiếp vào doanh thu tài chính trong quý 2 hoặc quý 3 năm 2026.
Đối với lượng khí trả trước tại nhà máy Cà Mau 1 và 2 tích lũy từ năm 2021, doanh nghiệp còn lại khoảng 120 triệu , trong đó đã thực hiện thu hồi xong 60 triệu trong nửa đầu năm và quyết tâm sẽ thu hồi toàn bộ lượng khí còn lại trong năm nay mà không gây ra bất kỳ ảnh hưởng tiêu cực nào đến kết quả hoạt động.
Về mặt quản lý tài chính dài hạn, đại hội cũng thông qua chủ trương chuyển dịch dòng tiền tập trung toàn lực cho hoạt động đầu tư phát triển thay vì chia cổ tức bằng tiền mặt.
POW sẽ chủ động phát hành thêm cổ phiếu để chi trả cổ tức và tăng vốn điều lệ, giúp củng cố bộ đệm vốn chủ sở hữu, hạ nhiệt tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ và bổ sung nguồn vốn đối ứng cần thiết cho các dự án năng lượng tái tạo và điện khí thay vì tiến hành thoái vốn tại các công ty con thành viên.
Tầm nhìn siêu dự án dài hạn và các mảnh ghép chuyển dịch năng lượng
Chiến lược phát triển dài hạn của PV Power đã lộ diện rõ nét thông qua các dự án nguồn điện quy mô lớn đang và chuẩn bị được triển khai trên cả nước. Tâm điểm dài hạn là siêu dự án nhiệt điện khí LNG Quỳnh Lập với tổng mức đầu tư dự kiến lên tới 59,400 tỷ đồng, bao gồm cả hệ thống kho cảng tái hóa khí và nhà máy phát điện công suất 1,500 MW.
Dự án này đã chính thức được khởi công xây dựng vào thời điểm ba ngày trước khi đại hội diễn ra và được ban lãnh đạo đặt mục tiêu vận hành thương mại trước năm 2030, đóng vai trò là động lực tăng trưởng chính của POW trong thập kỷ tới.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp đang tích cực nghiên cứu đầu tư dự án điện khí LNG Vũng Áng 3 tại Hà Tĩnh với định hướng chỉ tập trung vào phần nhà máy phát điện để tối ưu hóa nguồn lực tài chính.
Đối với mảng điện linh hoạt, PV Power dự kiến giao cho công ty con Nhơn Trạch 2 đầu tư và quản lý dự án nhà máy điện linh hoạt Nhơn Trạch 5 có công suất từ 500 MW đến 600 MW, tận dụng lợi thế hạ tầng sẵn có tại cụm điện lực dầu khí Nhơn Trạch.
Ở mảng thủy điện, thông qua đơn vị thành viên Đakđrinh, công ty đang xúc tiến nghiên cứu và chuẩn bị thực hiện M&A từ một đến hai nhà máy thủy điện ngay trong năm 2026, đồng thời khảo sát cơ hội phát triển thủy điện tích năng tại khu vực miền Trung và các dự án nguồn điện tiềm năng tại Lào để đón đầu nhu cầu nhập khẩu điện của quốc gia.
Định Giá và Khuyến Nghị
Đối với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu POW đang hội tụ đầy đủ các yếu tố của một cơ hội đầu tư giá trị tiêu chuẩn với tính an toàn cao từ dòng tiền ngành điện ổn định kết hợp dư địa tăng trưởng rõ ràng từ các nhà máy mới.
Sau giai đoạn điều chỉnh kỹ thuật từ vùng đỉnh, thị giá cổ phiếu POW dao động quanh vùng 13,000 đồng đến 14,000 đồng/cổ phiếu, đưa mức định giá P/E forward năm 2026 về ngưỡng vô cùng hấp dẫn từ 9.0 lần đến 11.8 lần, thấp hơn rất nhiều so với mức định giá trung bình lịch sử năm năm của doanh nghiệp là 20.1 lần.
Các CTCK lớn đồng loạt duy trì khuyến nghị tích cực đối với POW sau đại hội với mức giá mục tiêu kỳ vọng phản ánh tiềm năng tăng giá lớn.
Chứng khoán BIDV và Chứng khoán ACBS cùng đưa ra khuyến nghị MUA với giá mục tiêu đạt 17,100 đồng/cổ phiếu nhờ điều chỉnh tăng mạnh dự phóng lợi nhuận sau khi tối ưu hóa chi phí khấu hao thực tế và ghi nhận khoản đền bù sản lượng không huy động của Nhơn Trạch 3 và 4.
Chứng khoán Bản Việt định giá cổ phiếu ở mức 16,700 đồng/cổ phiếu , trong khi SSI Research duy trì giá mục tiêu 12 tháng ở mức 16,000 đồng/cổ phiếu.
Bảng so sánh quan điểm các CTCK về POW
| Tiêu chí | BSC (14/05/2026) | SSI (07/05/2026) | HSC (06/05/2026) | VDSC (06/05/2026) | ACBS (12/05/2026) |
| Khuyến nghị |
MUA |
KHẢ QUAN |
Mua vào |
TÍCH LŨY |
MUA |
| Giá mục tiêu (VND) |
17,100 |
16,000 |
16,900 |
15,700 |
17,100 |
| Doanh thu 2026F (tỷ đồng) |
50,841 |
46,994 |
48,038 |
Đang xem xét điều chỉnh |
49,288 |
| LNST 2026F (tỷ đồng) |
2,697 |
3,089 |
1,798 |
Đang xem xét điều chỉnh |
3,025 |
| Động lực tăng trưởng chính |
Sản lượng Nhơn Trạch 1 và Nhơn Trạch 2 tăng mạnh nhờ mỏ khí Sư Tử Trắng 2B; tổng vốn đầu tư Nhơn Trạch 3 và 4 thấp hơn dự kiến giúp giảm lãi vay và khấu hao; đền bù sản lượng hợp đồng (Qc) không huy động tại NT3&4 đạt 400 tỷ đồng trong Q1; hiện tượng El Nino từ tháng 6 hỗ trợ nhiệt điện. |
Đóng góp sản lượng từ Nhơn Trạch 3 và 4; chất lượng khoản phải thu cải thiện mạnh với nợ xấu giảm còn 5% tổng phải thu; chi phí quản lý giảm 30% nhờ hoàn nhập dự phòng; El Nino quay trở lại tạo điều kiện thuận lợi cho nhiệt điện phát khí nội địa. |
Quý vận hành trọn vẹn đầu tiên của tổ hợp Nhơn Trạch 3 và 4; cơ chế thanh toán công suất ưu đãi CfD giúp nhận thanh toán dựa trên Qc 1.42 tỷ kWh dù thực phát thấp hơn; định giá P/E trượt 1 năm trở nên hấp dẫn sau nhịp điều chỉnh. |
Nhơn Trạch 3 và 4 đi vào hoạt động và được phân bổ tỷ lệ Qc/Qm cao kỷ lục (163% trong Q1); sản lượng Nhơn Trạch 1 và 2 phục hồi mạnh mẽ bù đắp cho sự sụt giảm nguồn khí Tây Nam Bộ tại Cà Mau 1&2. |
Kết quả quý 1 bứt phá hoàn thành 51% dự phóng cả năm; nâng dự báo LNST năm 2026 lên thêm 19% nhờ điều chỉnh giảm ước tính chi phí khấu hao thực tế so với ghi nhận của doanh nghiệp. |
| Rủi ro và lưu ý chính |
Thiếu hụt nguồn khí đột ngột; thời tiết thay đổi bất thường; giá LNG giao ngay neo cao (tuy nhiên rủi ro giá LNG được chuyển ngang cho khách hàng theo hợp đồng điện). |
Sự cố kỹ thuật tại các tổ máy; căng thẳng địa chính trị Trung Đông kéo dài; rủi ro nguồn cung than và khí trong nước; giá LNG cao làm giảm tính cạnh tranh của điện khí LNG. |
LNST dự báo giảm 26% so với năm 2025 do áp lực từ chi phí tài chính (lãi vay) và khấu hao tăng vọt khi cụm Nhơn Trạch 3 và 4 đi vào hoạt động. |
Chi phí nhiên liệu leo thang do xung đột Trung Đông; rủi ro suy giảm hiệu quả biên lợi nhuận gộp trong các quý tới nếu tỷ lệ Qc/Qm giảm xuống dưới 1. |
Kết quả kinh doanh các quý còn lại có thể thấp hơn quý 1 do các nhà máy lớn bước vào lịch dừng máy bảo dưỡng định kỳ. |
POW: Nhơn Trạch 3 và 4 cho thấy khả năng chống chịu tốt trước cơn bão giá LNG.
