GMD: Các CTCK trái chiều nhau trong đánh giá triển vọng 2026

  • Kết quả kinh doanh Q1/2026: Gemadept đạt doanh thu 1,452 tỷ đồng (+13.7% YoY) và lợi nhuận sau thuế 650 tỷ đồng (+23.2% YoY), nhờ sự bứt phá của cảng Gemalink dù sản lượng phía Bắc sụt giảm
  • Triển vọng & dự báo: MAS dự báo doanh thu năm 2026 đạt 7,165 tỷ đồng, LNST 1,890 tỷ đồng; trong khi ACBS dự phóng doanh thu 6,610 tỷ đồng, LNST 2,568 tỷ đồng, nhấn mạnh lợi nhuận tăng nhờ điều chỉnh giá cước bốc dỡ từ tháng 2/2026.
  • Định giá & khuyến nghị: MAS khuyến nghị Nắm giữ với giá mục tiêu 78,800 đồng/cp, ACBS giữ quan điểm Trung lập với giá mục tiêu 77,.100 đồng/cp; HSC khuyến nghị Tăng tỷ trọng (94,000 đồng/cp) và VDSC khuyến nghị Mua (90,300 đồng/cp).

Cảng Nam Đình Vũ bứt phá hiệu suất nhờ dòng vốn nâng cấp hạ tầng

CTCP Tập đoàn Gemadept đã ghi nhận những kết quả vô cùng tích cực ngay trong quý đầu năm 2026, tiếp tục duy trì quỹ đạo tăng trưởng mạnh mẽ của hoạt động cốt lõi. Theo đó, doanh thu thuần quý 1 năm 2026 của doanh nghiệp đạt 1,452 tỷ đồng, tăng trưởng 14% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng container thông qua toàn hệ thống cảng của Gemadept đạt 1.23 triệu TEU, ghi nhận mức tăng 8% so với cùng kỳ. Nhờ hiệu quả vận hành tối ưu, lợi nhuận trước thuế của công ty trong quý 1 đạt 716 tỷ đồng, tăng trưởng 23% so với cùng kỳ. Với kết quả ấn tượng này, Gemadept đã lần lượt hoàn thành 22% chỉ tiêu doanh thu và 26% chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế của kế hoạch cả năm 2026, tạo nền móng vững chắc cho các quý tiếp theo.

Tại cụm cảng phía Bắc, cảng Nam Đình Vũ đang khẳng định vị thế cửa ngõ thông ra biển gần nhất và là hạt nhân tăng trưởng chính của Gemadept tại khu vực Hải Phòng. KBSV dự báo sản lượng thông qua cảng Nam Đình Vũ sẽ đạt khoảng 1.7 triệu TEU trong năm 2026, tương đương với việc lấp đầy 85% công suất thiết kế.

Động lực bứt phá này đến từ việc cảng Nam Đình Vũ giai đoạn 3 với công suất 650,000 TEU đã chính thức đi vào khai thác thương mại từ quý 4 năm 2025, giúp giải tỏa áp lực quá tải của hai giai đoạn trước đó.

Bên cạnh đó, việc hoàn thành nạo vét luồng hàng hải kênh Hà Nam xuống độ sâu -8.5m đã giúp nâng khả năng tiếp nhận tàu của cảng lên tới 55,000 DWT. Yếu tố hạ tầng vượt trội này không chỉ giúp Nam Đình Vũ thu hút thêm các tuyến dịch vụ mới mà còn củng cố năng lực cạnh tranh trực tiếp với cụm cảng nước sâu Lạch Huyện nhờ biểu giá dịch vụ hợp lý hơn.

Cảng nước sâu Gemalink duy trì vai trò đầu tàu dẫn dắt trong dài hạn

Tại cụm cảng phía Nam, cảng nước sâu Gemalink tiếp tục hoạt động vượt công suất thiết kế khi ghi nhận sản lượng xếp dỡ quý 1 đạt 523,000 TEU, tương đương hiệu suất khai thác lên tới 139%.

Mặc dù sản lượng cả năm 2026 của Gemalink dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại ở mức 5% do những giới hạn tạm thời về mặt công suất hiện hữu, tài sản này vẫn là động cơ thúc đẩy lợi nhuận dài hạn lớn nhất của doanh nghiệp.

Triển vọng tăng trưởng dài hạn của Gemalink sẽ được khai mở mạnh mẽ từ sau năm 2027 khi dự án Gemalink giai đoạn 2 với công suất 1 triệu TEU đã chính thức khởi công trong quý 2 năm 2026 và dự kiến bắt đầu vận hành từ cuối năm 2027.

Hơn thế nữa, Gemadept đang lên kế hoạch triển khai tiếp dự án Gemalink giai đoạn 3 từ cuối năm 2026, hứa hẹn sẽ đưa tổng công suất toàn cảng vượt ngưỡng 4 triệu TEU/năm và duy trì tốc độ tăng trưởng sản lượng 9% đến 10% mỗi năm trong giai đoạn 2028-2030.

GMD: Gemalink vẫn là cỗ máy kéo tăng trưởng lợi nhuận năm 2026 dù chưa tăng thêm công suất

Tiềm năng từ hạ tầng và vị thế dẫn đầu ngành

Theo Mirae Asset (MAS), Gemadept là tập đoàn logistics hàng đầu với hệ thống cảng biển chiến lược trải dài khắp cả nước, đặc biệt là cảng nước sâu Gemalink tại cụm Cái Mép – Thị Vải có khả năng tiếp nhận các siêu tàu lớn.

MAS đánh giá cao vị thế thuận lợi của GMD trong việc hưởng lợi từ tăng trưởng thương mại quốc tế của Việt Nam thông qua hệ thống cảng biển trọng điểm.

Trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất nhập khẩu Việt Nam tăng trưởng tích cực, dù giá cước vận tải chịu áp lực từ chi phí năng lượng leo thang.

Kết quả kinh doanh Q1/2026 của GMD ghi nhận doanh thu tăng 13.7% lên 1,452.4 tỷ đồng và LNST tăng 23.2% lên 650.2 tỷ đồng, nhờ sự bứt phá của cảng Gemalink dù sản lượng tại khu vực phía Bắc sụt giảm.

MAS dự báo doanh thu năm 2026 đạt 7,164.9 tỷ đồng và LNST đạt 1,890 tỷ đồng, doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh đầu tư CAPEX cho hoạt động vận tải biển và logistics, duy trì triển vọng tăng trưởng bền vững trong chu kỳ tới.

Trong khi đó, ACBS nhấn mạnh sự đóng góp tích cực từ cảng Gemalink với lợi nhuận tăng trưởng 46% nhờ sản lượng tăng và giá cước bốc dỡ được điều chỉnh tăng từ tháng 2 năm 2026, đã mang lại kết quả kinh doanh quý 1 tích cwucj.

Triển vọng năm 2026 của GMD vẫn khả quan nhờ nhu cầu xuất nhập khẩu phục hồi, các hiệp định thương mại tự do và việc tăng 10% giá cước bốc dỡ tại cảng nước sâu từ tháng 2/2026.

ACBS duy trì dự phóng doanh thu 6,610 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 2,568 tỷ đồng cho năm 2026.

 KBSV đưa ra dự phóng kết quả kinh doanh đầy khả quan cho Gemadept trong hai năm tới. Cụ thể, doanh thu thuần năm 2026 của doanh nghiệp dự kiến đạt 6,984 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ đạt 2,066 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt mức ấn tượng 18%.

Sang năm 2027, doanh thu thuần dự báo tiếp tục tăng trưởng lên mức 8,032 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế công ty mẹ đạt 2,465 tỷ đồng, kéo ROE cải thiện lên ngưỡng 20%. Để chuẩn bị nguồn lực cho chu kỳ đầu tư lớn, Gemadept đã thông qua phương án phát hành cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 50% để nâng vốn điều lệ lên gần 6,493 tỷ đồng.

Song song với đó, chương trình phát hành cổ phiếu ESOP giai đoạn 2026-2030 cũng được thiết lập chặt chẽ dựa trên mức độ hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận thực tế nhằm gắn kết lợi ích của đội ngũ nhân sự cốt cán.

Một điểm nhấn chiến lược hỗ trợ trực tiếp cho biên lợi nhuận của Gemadept chính là xu hướng điều chỉnh tăng giá dịch vụ cảng biển đang diễn ra khá tích cực. KBSV kỳ vọng giá dịch vụ tại các cảng của Gemadept sẽ duy trì đà tăng trưởng ổn định với mức tăng trung bình từ 5% đến 7% mỗi năm tại khu vực phía Bắc và từ 8% đến 10% mỗi năm tại khu vực phía Nam trong giai đoạn 2026-2030.

Động lực tăng giá này được hỗ trợ mạnh mẽ bởi quyết định nâng 10% khung giá trần dịch vụ xếp dỡ tại các cảng nước sâu của Bộ Giao thông Vận tải có hiệu lực từ ngày 1 tháng 2 năm 2026. Việc dư địa tăng giá tại Việt Nam còn rất lớn so với mặt bằng chung của khu vực, kết hợp với việc đẩy mạnh mô hình dịch vụ logistics tích hợp trọn gói, sẽ giúp Gemadept tối đa hóa giá trị thu về trên mỗi container và cải thiện đáng kể hiệu quả sinh lời.

Với kỳ vọng sản lượng toàn hệ thống đạt 5.6 triệu TEU, tăng 9% so với năm 2025, BSC ước tính doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ trong năm 2026 lần lượt đạt 7,148 tỷ đồng và 2,107 tỷ đồng, tương ứng mức tăng trưởng 20% và 26%. Động lực tăng trưởng này được hỗ trợ bởi việc đóng góp toàn phần từ Nam Đình Vũ giai đoạn 3, hiệu suất khai thác cao tại các cảng hiện hữu, cùng với sự cải thiện về giá dịch vụ tại cụm cảng Nam Đình Vũ, Phước Long, Bình Dương và Gemalink.

Do GMD không khai thác trực tiếp tuyến qua Trung Đông và tỷ trọng các tuyến đi khu vực này tại Cái Mép – Thị Vải chỉ chiếm 6%, tác động trực tiếp từ xung đột là tương đối hạn chế. Mặc dù căng thẳng kéo dài có thể mang lại cơ hội ngắn hạn từ các chuyến ghé cảng đột xuất (ad-hoc calls), mức độ hưởng lợi dự kiến không lớn do khối lượng hàng container qua eo Hormuz thấp và năng lực cảng tại Singapore đã được cải thiện. Ngược lại, xung đột kéo dài vẫn tiềm ẩn rủi ro về tỷ giá, lạm phát và nhu cầu xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Thách thức cạnh tranh và áp lực vĩ mô

Dù triển vọng tăng trưởng được đánh giá tích cực, vẫn cần lưu ý thận trọng đối với các yếu tố rủi ro. MAS nhấn mạnh đến áp lực cạnh tranh gia tăng tại khu vực Hải Phòng, nơi nguồn cung cảng mới đang làm thay đổi cục diện thị phần.

Đồng thời,MAS cũng lo ngại về các rủi ro liên quan đến sự thay đổi kế hoạch đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư cho tài sản cố định (CAPEX) và những biến động bất ổn của thương mại toàn cầu.

Trong khi đó, ACBS duy trì quan điểm trung lập và theo dõi sát sao áp lực cạnh tranh đối với cảng Nam Đình Vũ, đặc biệt sau khi hãng tàu MSC có những điều chỉnh về phân bổ sản lượng. 

ACBS cũng lưu ý rằng các rủi ro địa chính trị dù tác động chưa quá lớn, nhưng vẫn là yếu tố cần kiểm soát chặt chẽ trong môi trường kinh doanh đầy biến động.

Định giá cổ phiếu và chiến lược đầu tư

Về mặt định giá, Mirae Asset duy trì khuyến nghị Nắm giữ với giá mục tiêu là 78,800 đồng mỗi cổ phiếu, dựa trên dự báo lợi nhuận sau thuế của công ty mẹ năm 2026 sẽ đạt 1,890 tỷ đồng, phản ánh sự thận trọng trong các giả định về chi phí tài chính và tiến độ giải ngân đầu tư.

Ngược lại, ACBS đưa ra giá mục tiêu 77,100 đồng mỗi cổ phiếu với khuyến nghị trung lập. ACBS kỳ vọng lợi nhuận sau thuế cả năm 2026 của Gemadept sẽ đạt khoảng 2,568 tỷ đồng, dựa trên giả định giá dịch vụ xếp dỡ tiếp tục hỗ trợ tốt cho biên lợi nhuận.

Mặc dù triển vọng tăng trưởng của Gemadept là rất rõ ràng nhờ môi trường sản xuất trong nước hồi phục với chỉ số PMI tháng 5 đạt 52.8 điểm, KBSV vẫn lưu ý một số rủi ro vĩ mô cần theo dõi sát sao. Đáng chú ý nhất là căng thẳng địa chính trị kéo dài tại khu vực Trung Đông và sự biến động khó lường của giá dầu có thể làm gia tăng chi phí logistics toàn cầu, từ đó gây áp lực gián tiếp lên nhu cầu tiêu dùng và sản lượng hàng hóa thông qua cảng. Tuy nhiên, nhờ sở hữu hệ sinh thái hạ tầng cảng biển chất lượng cao và vị thế dẫn đầu ngành, Gemadept vẫn là cơ hội đầu tư hấp dẫn hàng đầu.

KBSV (4.6.2026) duy trì khuyến nghị mua đối với cổ phiếu GMD với giá mục tiêu là 86,400 đồng/cổ phiếu, mang lại tỷ suất sinh lời kỳ vọng 17.9% so với mức giá đóng cửa ngày 3 tháng 6 năm 2026 là 73,399 đồng/cổ phiếu.

Chứng khoán BIDV (4.6.2026) đã nâng khuyến nghị đối với cổ phiếu GMD từ Theo dõi lên Mua, với giá mục tiêu 90,400 đồng/cổ phiếu, tương ứng mức tiềm năng tăng giá là 19% so với giá đóng cửa ngày 04/06/2026. BSC cho rằng mức định giá hiện tại với P/E dự phóng 2026 là 17 lần vẫn hấp dẫn khi so sánh với mức trung bình 5 năm là 18,2 lần, đặc biệt khi cổ phiếu đã có sự điều chỉnh giảm gần 10% so với mức đỉnh gần nhất.

Bảng so sánh quan điểm các CTCK về GMD

Chỉ tiêu so sánh KBSV (Báo cáo 04/06/2026) ACBS (Báo cáo 01/06/2026) MAS (Báo cáo 29/05/2026) HSC (Báo cáo 18/05/2026) VDSC (Báo cáo 15/05/2026)
Khuyến nghị

MUA

TRUNG LẬP NẮM GIỮ

TĂNG TỶ TRỌNG

TÍCH LŨY

Giá mục tiêu (VND/cp)

86,400

77,100 78,800

94,000

90,300

Dự báo Doanh thu 2026 (Tỷ đồng)

6,984

6,610 7,164.9

6,847

6,341

Dự báo Lợi nhuận 2026 (Tỷ đồng)

2,066 (LNST công ty mẹ)

2,568 (LNST) 2,487 (LNST) hoặc 1,890 (LNST CĐM)

2,075 (Lợi nhuận thuần)

2,234 (LNST cổ đông công ty mẹ)

Động lực tăng trưởng chính

Nam Đình Vũ 3 đi vào hoạt động (dự kiến lấp đầy 85% công suất); nâng mớn nước luồng Hà Nam lên -8,5m giúp đón tàu 55.000 DWT; Gemalink là đầu tàu dẫn dắt lâu dài và hưởng lợi lớn từ biểu giá bốc xếp cảng nước sâu tăng 10%.

Doanh thu cảng tăng trưởng nhờ cụm cảng phía Nam (+12%) và miền Trung (+30%); Gemalink bứt phá lợi nhuận (+46%) nhờ giá xếp dỡ tăng 10% từ tháng 2/2026; mảng logistics duy trì đà tăng ổn định. Gemalink duy trì kết quả hoạt động vững chắc; GMD đẩy mạnh mở rộng đầu tư vào vận tải biển và sà lan nội địa phía Nam để khép kín chuỗi logistics.

Sản lượng cảng Gemalink bộc lộ sức tăng trưởng mạnh mẽ; hưởng lợi trực tiếp từ chính sách tăng giá sàn bốc xếp cảng nước sâu 10%; tiến độ Gemalink giai đoạn 2 triển khai đúng kế hoạch.

Cụm cảng phía Nam (Gemalink, Bình Dương, Phước Long) tiếp tục là mũi nhọn; GML tối ưu hóa công suất và biên lợi nhuận nhờ tăng 10% phí dịch vụ; mảng logistics khởi sắc hơn dự kiến.

Rủi ro và biến số cần theo dõi

PMI sản xuất có thể chỉ phản ánh xu hướng tích trữ hàng ngắn hạn; căng thẳng vĩ mô và địa chính trị kéo dài tại Trung Đông đẩy chi phí logistics lên cao.

Áp lực cạnh tranh công suất tại khu vực Hải Phòng (từ các bến mới của Lạch Huyện); rủi ro thuế quan từ Mỹ; biên lợi nhuận mảng cảng sông bị thu hẹp. Giá năng lượng tăng vọt do xung đột Mỹ-Iran chưa phản ánh hết vào chi phí quý 1, có thể gây áp lực lên chi phí vận tải của các quý sau.

Căng thẳng Trung Đông kéo dài ảnh hưởng nhu cầu xuất khẩu; cạnh tranh khốc liệt tại Hải Phòng khiến sản lượng Nam Đình Vũ quý 1 giảm 8%.

Sản lượng Nam Đình Vũ sụt giảm do khách hàng lớn MSC dịch chuyển tuyến dịch vụ sang Lạch Huyện; doanh thu cho thuê tàu định hạn giảm do Green Pacific hết hạn hợp đồng.

Để lại một bình luận