Bức tranh quý 2 của ngành ngân hàng: động lực tăng trưởng lợi nhuận vượt trội từ tín dụng và thu phí

  •  Quý 2/2026, tổng lợi nhuận trước thuế ngành ngân hàng đạt gần 111 nghìn tỷ đồng (+25% YoY, +18% QoQ theo VDSC) và 95,700 tỷ đồng (+27.6% YoY, +20.3% QoQ theo SSI), nhờ tín dụng tăng trưởng mạnh và thu phí bùng nổ.

  •  Tín dụng toàn hệ thống tăng 8.3% YTD (17,4% YoY), nhóm ngân hàng niêm yết đạt 9.1%, trong đó VPB, HDB, TCB, MBB dẫn đầu; thu nhập ngoài lãi đạt hơn 92 nghìn tỷ đồng (+18% YoY), riêng dịch vụ đạt 49 nghìn tỷ đồng (+58% YoY).
  •  NIM phục hồi lên 3.06–3.22% từ mức đáy quý 1, nhưng nợ xấu tăng lên 1.97%, nợ nhóm 2 đạt 1.37%, tỷ lệ LDR toàn hệ thống ở mức cao 102.4%, cho thấy áp lực huy động vốn và dự phòng rủi ro sẽ gia tăng trong nửa cuối năm.

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) và Công ty Chứng khoán SSI, ngành ngân hàng trong quý 2/2026 đã ghi nhận kết quả kinh doanh rất khả quan và vượt kỳ vọng ban đầu.

Cụ thể, các ngân hàng niêm yết trong phạm vi nghiên cứu của VDSC đạt tổng lợi nhuận trước thuế gần 111 nghìn tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước và tăng 18% so với quý trước. Trong khi đó, nhóm nghiên cứu của SSI ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng trong phạm vi theo dõi đạt 95,700 tỷ đồng, tăng 27.6% so với cùng kỳ và 20.3% so với quý trước.

Động lực chính thúc đẩy sự bứt phá này đến từ quy mô tín dụng duy trì đà mở rộng mạnh mẽ, biên lãi ròng (NIM) phục hồi cùng với sự bùng nổ của thu nhập ngoài lãi.

Tín dụng tăng trưởng tích cực nhưng phân hóa rõ nét giữa các nhóm ngân hàng

Tính đến cuối quý 2/2026, tín dụng toàn hệ thống ghi nhận mức tăng trưởng 8.3% tính từ đầu năm (hoặc 17.4% so với cùng kỳ), trong khi nhóm ngân hàng niêm yết đạt mức cao hơn với 9.1%, với sự phân hóa sâu sắc khi các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân như VPB, HDB, TCB và MBB đẩy mạnh giải ngân vào các lĩnh vực như chủ đầu tư bất động sản, thương mại và dịch vụ tài chính.

Ngược lại, nhóm Ngân hàng Thương mại Nhà nước duy trì tốc độ tăng trưởng thận trọng hơn để nhường dư địa vốn cho các dự án hạ tầng quốc gia trọng điểm trong nửa cuối năm.

Về cơ cấu, tín dụng trung và dài hạn cùng tín dụng doanh nghiệp tiếp tục đóng vai trò là động lực chủ đạo, trong khi cho vay khách hàng cá nhân, đặc biệt là phân khúc mua nhà, vẫn bị kìm hãm do mặt bằng lãi suất cho vay duy trì ở mức cao từ 12% đến 15%.

Tổng thu nhập ngoài lãi trong nửa đầu năm 2026 đạt hơn 92 nghìn tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ và đóng góp lớn thứ hai vào tăng trưởng lợi nhuận trước thuế.

Trong đó, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 49 nghìn tỷ đồng, tăng 58% so với cùng kỳ nhờ dịch vụ thanh toán, tài trợ thương mại và bảo hiểm, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng tư nhân lớn và quy mô trung bình.

Thu nhập khác đạt hơn 28 nghìn tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ nhờ các khoản thu bất thường của VCB và HDB.

Ngược lại, hoạt động thu hồi nợ xấu đã xử lý trong quý 2/2026 giảm nhẹ 1% so với cùng kỳ xuống hơn 11.4 nghìn tỷ đồng, phản ánh thanh khoản thị trường bất động sản hạ nhiệt và cần được theo dõi sát trong nửa cuối năm.

Biên lãi ròng phục hồi nhờ cơ chế định giá tài sản

Biên lãi ròng (NIM) toàn ngành trong quý 2/2026 đã bật tăng tích cực sau vùng đáy của quý trước, với VDSC ghi nhận NIM tăng lên 3.06% (từ mức 2.89% trong quý 1) và SSI ghi nhận mức 3.22% (tăng 18 điểm cơ bản so với quý trước).

Sự hồi phục này đến từ việc các ngân hàng nhanh chóng chuyển phần tăng của chi phí huy động sang lãi suất cho vay, đồng thời hưởng lợi từ việc tái định giá các khoản vay cũ và dịch chuyển danh mục sang các kỳ hạn trung và dài hạn có mức sinh lời cao hơn.

Tuy nhiên, cả hai công ty chứng khoán đều lưu ý rằng đà hồi phục của NIM sẽ đối mặt với thách thức lớn trong nửa cuối năm 2026 khi áp lực cạnh tranh huy động đẩy chi phí vốn tiếp tục leo thang.

Thách thức về huy động vốn và áp lực thanh khoản hệ thống

Hoạt động huy động vốn trong quý 2/2026 tiếp tục là điểm nghẽn lớn khi tốc độ tăng trưởng tiền gửi chậm hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng, làm nới rộng khoảng cách giữa tín dụng và huy động.

Theo dữ liệu của VDSC, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR) của phần lớn ngân hàng vẫn neo sát ngưỡng giới hạn 85%, trong khi SSI chỉ ra LDR toàn hệ thống ở mức cao 102.4%.

Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tiến độ giải ngân đầu tư công chậm hơn mức tăng của tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng, khiến dòng tiền bị hút ròng.

Dù các ngân hàng đã tích cực đa dạng hóa nguồn vốn trung và dài hạn qua phát hành chứng chỉ tiền gửi hoặc huy động quốc tế, áp lực thanh khoản và chi phí huy động cao vẫn hiện hữu.

Thách thức trong huy động tiền gửi khách hàng xuất phát từ việc giải ngân đầu tư công chậm khiến thặng dư ngân sách lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 419 nghìn tỷ đồng, lớn hơn mức tăng 231 nghìn tỷ đồng của tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại, dẫn đến gần 190 nghìn tỷ đồng thanh khoản bị rút ròng khỏi hệ thống.

Do áp lực này, tỷ lệ LDR của phần lớn ngân hàng neo sát ngưỡng tối đa 85%, trong đó VPB căng thẳng nhất ở mức 84.5%, theo sau là MBB, BID và CTG quanh mức 83%, trong khi VCB là ngoại lệ khi giảm xuống dưới 80%.

Chất lượng tài sản suy yếu và áp lực trích lập dự phòng gia tăng

Song hành với kết quả lợi nhuận tích cực, chất lượng tài sản toàn ngành đang bộc lộ những dấu hiệu suy yếu đáng chú ý.

VDSC và SSI đều ghi nhận tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ nhóm 2 tăng lên trong quý 2/2026, trong đó tỷ lệ nợ xấu của SSI đã nhích lên mức 1.97% (mức cao nhất trong quý 2 kể từ năm 2020) và nợ nhóm 2 của VDSC tăng lên 1.37%.

Sức ép trả nợ gia tăng từ mặt bằng lãi suất cao đã đẩy khối lượng hình thành nợ xấu mới tăng lên, đặc biệt tập trung ở một số ngân hàng.

Theo đánh giá của SSI. chất lượng tài sản toàn ngành ngân hàng trong quý 2/2026 ghi nhận sự phân hóa rõ rệt và xuất hiện nhiều dấu hiệu suy yếu. Nợ xấu toàn ngành tăng 21.4% từ đầu năm và tăng 9.5% so với quý trước, đẩy tỷ lệ nợ xấu lên 1.97% – mức cao nhất trong quý 2 kể từ năm 2020.

Áp lực nợ xấu chủ yếu tập trung tại CTG, STB, HDB và BID. Bên cạnh đó, nợ nhóm 2 cũng bật tăng mạnh 31.6% so với đầu năm, dẫn đầu bởi STB, HDB và VPB.

Về chi phí dự phòng, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giảm trích lập 26% so với quý trước, ngược lại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng mạnh 33% do áp lực từ STB, HDB, OCB và ACB.

Điều này khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục giảm xuống còn 83%. SSI duy trì quan điểm thận trọng về chất lượng tài sản trong nửa cuối năm 2026 trong bối cảnh mặt bằng lãi suất cho vay vẫn duy trì ở mức cao từ 12% đến 15% và rủi ro vỡ nợ chéo có thể phát sinh qua dữ liệu CIC.

Để lại một bình luận